TÍN NGƯỠNG – TÔN KÍNH, THỜ PHƯỢNG, LỄ BÁI, XƯNG TỤNG – ÍCH LỢI VỀ SỰ ĐỌC VÀ NGHE KINH
CHƯƠNG THỨ BA
I. TÍN NGƯỠNG
NGHĨA CHỮ TÍN NGƯỠNG
Tín nghĩa là tin chắc, là nhìn chịu một điều chi, rồi nhứt định trong tư tưởng, không còn ngờ vực nữa. Ngưỡng nghĩa là kính mộ, trông ngóng vào một lẽ chánh đáng, trọn tốt, trọn lành, để làm nêu dẫn đường.
Tín ngưỡng có ba điều trọng yếu là: Thiệt, đức, năng.
- Thiệt là tin lẽ chơn thiệt. Theo đạo Minh Lý, lẽ chơn thiệt này là Đạo, phát biểu khắp trời đất, chủ tể trong lòng người.
- Đức là biết có người theo lẽ chơn thiệt đó mà trau sửa thân tâm, trở nên bực đức hạnh cao khiết, hoàn toàn giải thoát, làm lợi ích cho chúng sanh đáng nêu gương lành muôn thuở, tức là Phật, Tiên, Thánh.
- Năng là tin rằng mỗi người đều có đủ sức, đủ tài năng mà làm như vậy. Theo đạo Minh Lý ai ai cũng nên tưởng rằng: Hễ mình có công phu tu hành, thì một ngày kia sẽ trở nên Phật, Tiên, Thánh chẳng sai.
Tin như thế gọi là chánh tín, thì tâm sẽ được an trụ, không bị dục vọng khuấy rối. Ấy là một phương pháp để cách vật dục.
Có chánh tín trong lòng, mới vui vẻ mà bước tới, cố gắng mà làm phận sự. Có vui vẻ, có cố gắng, thì chỗ mình để ý trông ngóng kia mới càng ngày càng thêm gần gũi mãi, có ngày sẽ đạt tới chỗ đó.
Kinh Tiên nói: “Chữ Tín vốn ngũ hành thuộc Thổ“. Thổ ở ngôi trung ương, thì đủ biết nó là căn bổn của ngũ hành, tức là căn bổn của mọi sự, mọi vật.
Kinh Phật nói: Tín là nguồn cội của Đạo, hay phát sanh các công đức, hay nuôi lớn các căn lành.
Sự tín ngưỡng có công dụng rất lớn. Mỗi việc làm ra nên hư, còn mất, một phần lớn là do nơi tín ngưỡng. Nếu không có lòng tín ngưỡng làm nêu dẫn đường, thì ý muốn chẳng quyết định, việc làm không chủ nghĩa. Ý muốn chẳng quyết định thì hay sanh lòng ngờ vực, sụt sè, rõ ràng thấy thất bại trước mắt. Còn việc làm không chủ nghĩa, thì có khác nào người mù đi đêm tối, gặp may thì ít, vương rủi thì nhiều, e phải sa hầm mắc bẫy.
Một điều nên xét là khi thấy ai hành động khác hơn ta chớ vội đem lòng chia rẽ. Miễn là người đồng chung mục đích với ta, gọi là thù đồng quy thì khá hưởng ứng vùa giúp nhau. Còn những kẻ sai lầm mà có vẻ chất phác, tuy là mê tín mà đáng dung chế, vì ta có thể hy vọng hạng người này sau sẽ tìm đặng con đường chánh mà vào. Chớ ta không nên hùa theo kẻ cố ý tồi bại phong tục, luân lý, phá hoại trật tự trị an.
MỘT TÊN KHÁC CỦA TÍN NGƯỠNG
Thông thường theo tông giáo thì gọi là tín ngưỡng, hay nói cho rõ là chánh tín. Còn theo việc đời, hay dùng chữ lập chí. Kỳ thiệt, hai tên tuy khác, mà chỉ có một nghĩa, là định tư tưởng vào một chủ đích chơn chánh.
Đức Thái Thượng Lão Quân giáng bút dạy rằng:
“Ta có một thang trị về trí (tánh hiểu biết), một thang trị về hành (làm theo tánh hiểu biết đó), nhưng phải ráng mà tìm cho được một vị dẫn dược. Vị này rất khó tìm lắm, nó không ở đâu xa, mà ở trong mỗi người. Song chư nhu (các trò) phải coi chừng cho kỹ, kẻo phải mắc món giả mà mang hại, vì hai món tương tợ nhau phải biết phân biệt mới đặng.
Vị thuốc này là một vị có thể làm cho con người được nên công nghiệp, được thành Thánh, Hiền, Tiên, Phật. Để ta biên cho, là vị Lập Chí. Đó là một vị rất quý.
Con người không có chí, thì không khác nào chiếc ghe không lái, con ngựa không cương, đi dông dài, nên có biết đâu là bờ bến. Con người không có chí, thì đâu có đặng dõng lực, hằng tâm, nên sự tấn hành hay sụt sè, khi thì siêng, khi thì biếng, khi thì tấn, khi thì thối, kết cuộc không nên việc gì hết.
Vì không có chí, nên không tự chế, không kiên nhẫn. Đường đi mười phần, đi đặng bảy, tám phần, vì sự khó khăn mà bỏ hủy. Thật rất nhọc công mà vô ích. Những người đã lập chí mà không cố ráng làm, thì cũng như người vô chí vậy.
Lập chí là thiệt. Còn món tương tợ là dục vọng. Dục vọng là hư, bác tạp, hay tắt, biến hình, biến dạng không chừng. Đó là cái tư niệm của lòng người. Còn Chí là thiệt, hay kiên cố, chuyên nhứt, không dời, không đổi. Nhưng phải do cái tưởng mà định ra cái tiêu đích, mà lập chí. Hễ chí đã lập rồi thì ráng mà giữ gìn, không nên theo cái tưởng mà đuổi theo nó. Nay vầy mai khác thì đâu có đạt được mục đích“.
Theo lời dạy này, chí là tư tưởng đặng chọn lựa chính đính, để làm nêu dẫn đường, thì không ra ngoài nghĩa chữ chánh tín đã giải trước.
CÁC TIÊU BIỂU CỦA ĐẠO MINH LÝ
Trước đã nói: Thiệt là tin lẽ chơn thiệt, tức là Đạo, hay là Thái cực, cũng gọi là Thiên Đế hay là Thượng Đế.
Nhưng ngôi Thái cực vô hình, trừ ra các bực thượng trí và tu cao, những hạng sơ giai khó bề để ý. Phần đông nên tin có những người tu thân theo lẽ chơn thiệt đó, mà nên đức hạnh hoàn toàn chứng bực chơn nhơn.
Mỗi người đều có Lý tánh rất sáng suốt. Hiềm vì cái Lý tánh này khí bẩm kềm thúc, vật dục màn che, cho nên không còn sáng suốt nữa. Nếu con người biết cách biến hóa hết khí bẩm, vật dục, thì tự nhiên lý tánh trở lại sáng suốt như xưa.
Theo Nho, phép cốt yếu tu thân ở chỗ biến hóa khí bẩm, vật dục. Hễ dứt rồi thì gọi là chí thành, nghĩa là: Thiệt lòng chẳng dối, hiệp với thiên nhiên. Còn theo Đạo thì gọi là: Dữ Đạo hiệp chơn, nghĩa là: Cùng Đạo hiệp một lẽ chơn.
Đến khi chứng quả thành chơn, người theo phái Thích thì gọi là Phật, người theo phái Đạo thì gọi là Tiên, người theo phái Nho thì gọi là Thánh. Phật, Tiên, Thánh là ba danh từ khác nhau nhưng đồng chỉ có một bực người chứng đặng lý tánh hoàn toàn sáng suốt mà thôi, gọi chung là Chơn nhơn.
Khi sanh tiền, các Ngài viết sách kinh dạy Đạo. Vào lúc tử hậu, các Ngài giáng cơ bút độ đời. Chẳng chi khác hơn là dìu dắt chúng sanh trên con đường mà các Ngài đã trải qua rồi.
Như vậy, các Ngài là Thầy của chúng tôi, là tiêu biểu của đạo Minh Lý. Chẳng lúc nào chúng tôi không tin tưởng có các Ngài ở trên đầu, chúng tôi lại thường xem sự tích của các Ngài để nuôi chí hướng về Đạo.
II. TÔN KÍNH, THỜ PHƯỢNG, LỄ BÁI, XƯNG TỤNG
Cũng như các tông giáo khác, đạo Minh Lý có những phương pháp để giữ sự tín ngưỡng cho vững vàng. Đó là những phép thông dụng xưa nay trong Tam giáo: Tôn kính, Thờ phượng, Lễ bái, Xưng tụng.
TÔN KÍNH
Tôn kính nghĩa là cung kính, sùng bái. Giờ nào, khắc nào, đối với Trời, Phật, Tiên, Thánh ta cũng phải giữ một lòng sùng bái, cung kính. Vì ta biết rằng: Trời là ngôi Thái cực, còn Phật, Tiên, Thánh là những bực đã làm sáng tỏ cái ngôi ấy nơi mình, bởi dẹp hết vật dục, tạo ra công đức vô lượng.
Ta phải hằng chăm chỉ vào gương đức hạnh của các Ngài mà tu tập lần lần, làm thế nào cho một ngày kia, ta đặng lành tốt như vậy mới là tròn bổn phận.
Thầy Trình Minh Đạo nói rằng: Một lòng kính đủ thắng trăm điều tà. Thầy Trình Y Xuyên nói: Khi bắt đầu theo Đạo học, thì chẳng gì bằng kính. Chưa khi nào đã đặng trí tri, mà chẳng căn cứ ở điều kính.
Kính là chủ nhứt. Chủ nhứt là chú ý vào cái Một (Lý tánh), thì không lòng dục. Thường thường tôn kính, thì thường không sanh lòng tưởng quấy, tin việc ám mờ. Thế thì tôn kính có phải là phép cốt yếu để tu tâm, khắc kỷ chăng?
THỜ PHƯỢNG
Thờ phượng là mượn vật cụ thể để ngay luôn luôn trước mắt, hòng nhắc nhở lòng mình để ý niệm tưởng đến các chơn linh cao thượng, đừng cho lúc nào quên sự tôn kính. Ấy là tôn kính bằng ý, theo cách hữu hình.
Người ta thường dọn một cái bàn thờ ở chính giữa nhà, chưng dọn trang nghiêm, để làm chỗ vọng Trời, Phật, Tiên, Thánh. Có người dùng hình cốt, có kẻ dùng tranh vẽ. Còn chúng tôi thờ bài vị, chẳng chi khác hơn là vì lẽ phương tiện.
Đức Khổng Tử dạy rằng: “Tế như tại, tế Thần như Thần tại“, nghĩa là: Tế ông bà như có ông bà ở đó, tế Thần Thánh như có Thần Thánh ở đó. Chữ như này có nghĩa là: Tuy món vật cụ thể thay thế nói trên không phải là ông bà, Thần Thánh, mà cung kính như đứng trước ông bà, Thần Thánh vậy. Vì ở trong vũ trụ này, không có cái chi có rồi mà lại mất hẳn. Ông bà, Thần Thánh do Thái cực sanh ra, lấy lý làm tánh, thì không bao giờ mất, chỉ có thay hình đổi dạng, khi ẩn khi hiện mà thôi.
Ở giữa bàn thờ, có treo một cái đèn lưu ly. Đó là tượng trưng cái Đạo biến chuyển, mà cũng là biểu hiệu Tam giáo qui nguyên. Vòng tròn làm Vô cực. Một chấm giữa (tức là ngọn đèn) làm Thái cực hay là Nhứt khí. Do ba cái chia, Thái cực sanh ra Trời, Đất, Người, tức là ba mặt của Đạo, cũng gọi là tam tài.
Nay người bị dục vọng che lấp, càng ngày càng xa nguồn cội. Nếu muốn phục lại cái bổn thể thường minh của Đạo, thì phải noi theo con đường cũ mà trở về. Con đường cũ là ba chia, cũng tượng hình Tam giáo, gốc ở Đạo: “Vô cực nhi Thái cực“. Vô cực nhi Thái cực cũng gọi là Trung Đạo.
LỄ BÁI
Xưa kia, chữ Lễ có nghĩa là nghi tiết sắp đặt để cúng tế thần linh. Nay lấy nghĩa rộng, lễ cũng là tiết chế thân tâm trong mỗi việc làm, cho đặng thích trung. Bái là quì lạy, năm vóc mọp sát đất để tỏ lòng tôn kính.
Hiệp lại mà giải, lễ bái nghĩa là: Khi tế tự quì lạy dưng cúng cho có oai nghi và đặng thích trung, để tỏ lòng tôn kính với các Đấng Thiêng Liêng. Đây là tôn kính bằng thân thể.
Nếu để cho mỗi người tự do dưng cúng thì không sao tránh khỏi chỗ thái quá, bất cập. Thái quá làm mệt nhọc, thì có hại đến thân thể. Còn bất cập sanh ra lả lơi, thì có hại về tinh thần. Cho nên các tông giáo đều có sắp đặt một thứ lễ bái hạp cho phần đông bổn đạo, ngõ hầu mỗi người đều vui lòng làm theo và vưng giữ lâu dài.
Theo xã giao, sách Trung Dung nói rằng: Lễ trong tông miếu là để sắp tả chiêu hữu mục, sắp theo phẩm tước là để biện phân sang hèn, sắp có phận sự là để biện phân hiền ngu. Theo tông giáo, sắp theo chức sắc lớn nhỏ là để biện phân công đức của mỗi người.
XƯNG TỤNG
Xưng tụng nghĩa là khen ngợi, chúc mừng. Đây là tôn kính bằng miệng.
Ta khen ngợi chúc mừng Trời, Phật là vì lẽ nào? Là vì Trời, Phật có công cao đức dày, làm lợi ích cho chúng sanh không xiết kể. Cho nên phận sự của kẻ thọ ơn, phải làm như vậy, để tỏ lòng tôn kính, mến phục.
Những người thường giữ tôn kính trong lòng, hoặc là thờ phượng (tôn kính bằng ý), hoặc là lễ bái (tôn kính bằng thân thể), hoặc là xưng tụng (tôn kính bằng miệng), thì ý, thân, miệng không rảnh mà xu hướng về đường quấy. Thế có phải là tịnh tu ba nghiệp chăng?
TÁNH TẬP QUÁN RẤT KHỐC HẠI, MÀ CŨNG RẤT HỮU ÍCH
Các phương pháp kể trên rất dễ thi hành thường xuyên, đều căn cứ vào tánh tập quán mà lập ra. Tánh này chủ về phần hành động vô ý thức (cũng gọi là tiềm thức) của con người.
Hễ con người đã làm một việc chi nhiều lần thì đến sau tự mình làm việc đó mà chẳng hay biết. Bình thường, các hành vi của ta phần nhiều không đặng chánh đáng. Nay ta vào Đạo, thì phải tuyệt hẳn các hành vi đó. Nhưng ít người tuyệt bỏ ngay được, vì các việc làm trước ăn bám sâu trong phần vô ý thức của tâm ta rồi. Vậy ta phải ra công gỡ lần, rồi thay thế vào những việc làm khác, để tập cho nó quen về đường chánh, theo mục đích và tông chỉ của Đạo.
Tánh tập quán tuy rất khốc hại cho những người theo con đường dữ, mà nó giúp ích cũng chẳng vừa cho kẻ nào theo con đường lành. Lúc mới vào Đạo, ta cần phải kềm thúc thân tâm, nên có chút phiền nhọc. Nhưng đến sau quen rồi, tánh tập quán là một tên bộ hạ rất trung thành, nó sẽ thế cho ta mà làm các việc lành đã giao phó cho nó.
TỰ THÀNH MINH
Các phương pháp kể trên đều chủ về một sự tôn kính. Có tôn kính thì sự tín ngưỡng mới mạnh mẽ, tâm chí mới chơn thành. Tín ngưỡng mạnh mẽ, tâm chí chơn thành, thì làm chi lại không được?
Khi khai đạo Minh Lý, Phật Tiên có cho hai câu đối làm sắc lịnh như sau này:
Kỉnh giáo, năng tu đức,
Thành tâm, Đạo khả hành.
Nghĩa là: Kỉnh lời dạy, thì trau dồi đức hạnh mới kham, Lòng chơn thành mới có thể thiệt hành cái Đạo.
Sau Đức Thái Thượng Lão Quân có cho thêm một bài thơ như vầy:
Nhứt niệm tu hành, vạn sự khinh,
Tâm chuyên từ thiện, chí năng minh.
Thành tư tông giáo, cầu chơn lý,
Kỉnh tụng thường xuyên luyện tánh tình.
Rồi Ngài lại nói: Có tâm thành thì mới minh lý. Nhứt tâm thành kỉnh là sắc lịnh, Minh Lý là hiệu đạo của chúng tôi.
Sách Trung Dung lại nói: “Tự thành minh“, nghĩa là: Tự mình có lòng thành kỉnh, thì đặng sáng suốt. Nếu không lòng thành kỉnh thì ý tà dấy lên. Ý tà dấy lên, thì trí bâng khuâng điên đảo, lực lượng chia ra nhiều mối, nên phải yếu ớt, tối tăm.
Trước nói tự minh thành, đây lại nói tự thành minh. Rõ ràng là hai chữ thành và minh làm nhân quả lẫn nhau, trong chữ minh cần phải có chữ thành. Lại cũng nên chú ý: Trước phải trí lương tri, rồi sau mới đặng minh. Trước phải cách vật dục, rồi sau mới đặng thành. Vậy, cách vật, trí tri trong sách Đại Học chẳng qua là để cầu minh và thành ở trong sách Trung Dung mà thôi.
III. ÍCH LỢI VỀ SỰ ĐỌC VÀ NGHE KINH
Đại khái, đọc kinh có thể tạo ra một không khí lành, nhứt là ở trong cảnh thanh tịnh, khiến cho những người nghe kinh hay phát sanh tư tưởng tốt.
Những người còn sống, dầu là người không có đạo nào, khi nghe câu kinh giọng kệ cũng bớt lòng phiền não, tưởng tới Phật Trời, mà xu hướng về đường đạo đức. Còn những người thác rồi, khi thần thức chưa theo định nghiệp mà chuyển sanh, hồn phách còn dật dờ chưa tỉnh, nếu nghe đặng câu kinh giọng kệ, thì cũng hướng thiện, biết ăn năn tội lỗi.
Những kinh của đạo Minh Lý, thuộc về lễ bái, có thể chia ra làm bốn loại lớn, là: các bài chú, kinh xưng tụng, kinh cầu nguyện, kinh khuyến thiện.
CÁC BÀI CHÚ
Chữ chú, tiếng Phạn gọi là đà-la-ni (dharani), có nghĩa là: Lời chúc nguyền. Các bài chú phần nhiều là sắc lịnh, chủ về âm thinh. Lúc nào cũng phải đọc lớn tiếng cho có đủ oai nghi và đúng cách thức riêng: Miệng đọc, ý tưởng, tay vụ việc làm. Đó là chuyên cần ba nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp đặng trọn thanh tịnh, thì gọi là tam mật.
Trong kinh Minh Lý, có nhiều bài chú: Chú đốt nhang, chú tịnh thủy, chú khai hoa, chú tịnh khẩu, chú tịnh tâm, chú tịnh thân, … Ngoài ra còn có những bài: Thông Minh Chú, Diệt Tâm Quá Chú, … là lời của Tiên Phật chú nguyện cho chúng sanh, mà ta chỉ đọc y theo đó.
KINH XƯNG TỤNG
Những kinh xưng tụng, như bài Tặng Thiên Đế, bài Xưng Tụng Công Đức của chư Phật, chư Tiên là kinh cúng đàn, dùng trong lúc cúng hội. Còn bài Thiên Đế, Địa Mẫu, Thái Dương, Thái Âm, là kinh cúng tứ thời, mỗi người phải đọc hàng ngày.
Kinh này cốt để nhắc nhở công đức của Bề Trên, trước là tỏ lòng biết ơn, sau là giục lòng tôn kính, mến phục và bắt chước theo gương lành.
KINH CẦU NGUYỆN
Cầu là xin các Đấng Thiêng Liêng ban ơn hay là giúp sức cho việc mình được thành tựu. Nguyện là bày tỏ việc mình đương ngưỡng mộ trong lòng.
Cầu nguyện có nhiều cách: Cầu an, cầu thoát khổ, cầu lành bệnh, cầu siêu độ… Nhưng không có gì hay hơn là cầu thấy Lý tánh. Những kinh cầu nguyện của đạo Minh Lý là: Sám Hôn Cấu, các bài Cầu Lành Bệnh, các bài Cầu Siêu, Quan Âm Cứu Khổ, Nhựt Dụng Biểu, Tứ Đại Điều Qui …
Phật giáo dạy niệm Phật. Nói về sự, niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà là để cầu vãng sanh về Tây phương Tịnh Độ. Nói về lý, niệm Phật A Di Đà là niệm tự tánh vô lượng của mình. Đây là chỗ gọi: “Duy tâm Tịnh độ, bổn tánh Di Đà“.
Trên nói cầu Trời, Phật, Tiên, Thánh là nói chung. Mỗi phái tôn kính ngôi cao hơn hết của mình, gọi là bổn tôn, thì tưởng nên cầu ngay nơi đó. Chỗ cốt yếu là phải giữ trọn lòng thành. Cho nên theo đạo Minh Lý, khi cẩn cấp, chỉ niệm một câu rất vắn tắt: “Rất lòng thành tín“.
KINH KHUYẾN THIỆN
Khuyến thiện là khuyên làm lành. Những kinh khuyến thiện là: Sám Hối, Giác Thế, Tịnh Nghiệp Vãn … chủ về sự bỏ dữ theo lành. Đó là kho cất chứa những lời vàng ngọc của Phật, Tiên, Thánh truyền lại dạy đời.
CÔNG PHU ỨNG DỤNG
Những người tu hành chỉ biết lễ bái lần lần đặng tịnh định, mà không lo phần thiệt hành thì khó đứng vững. Hồi vô sự thì xem ý tứ tốt lành mà chừng gặp việc phải giao thiệp, liền thấy tánh tình chẳng đồng như trước.
Lễ, bái, đọc kinh là phép tu trong lúc vô sự, cốt để thâu tâm mà thôi. Thâu tâm là để hàm dưỡng bổn tánh, để dọn mình bước lên thiệt địa, nghĩa là ứng dụng lời dạy trong kinh khuyến thiện, vào công việc làm hàng ngày của mình.
Sách Bá Tự Bi nói rằng:
Chơn thường tu ứng vật,
Ứng vật yếu bất mê.
Nghĩa Nôm: Tánh chơn thường đến việc phải ứng dụng, mà khi ứng dụng, cốt yếu tại không mê. Ứng dụng là tùy cơ ứng biến, đem lý thuyết hay là chỗ hiểu biết của mình ra mà dùng cho trúng tiết. Vì cái biết chơn thiệt chưa từng không làm. Biết mà không làm tức là chưa biết, cho nên cái biết chơn thiệt tự nhiên phải có thiệt hành.

