VÌ SAO PHẢI MINH LÝ TÁNH? – MINH LÝ TÁNH BẰNG CÁCH NÀO? – TRÍ TRI VỚI HỌC HỎI
CHƯƠNG THỨ NHÌ
I. VÌ SAO PHẢI MINH LÝ TÁNH?
Đã nói Lý tánh sẵn có tự nhiên, mà sao không nhận thấy được, lại cần phải minh Lý tánh? Lý tánh tuy sẵn có, mà khó thấy là bởi hai lẽ:
LÝ TÁNH BỊ CHE LẤP
Trong Dịch Hệ Từ, có câu: “Nhứt âm, nhứt dương chi vị Đạo. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả tánh dã. Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi trí. Bá tánh nhựt dụng nhi bất tri, cố quân tử chi đạo tiển hĩ“, nghĩa là: Vừa có âm, vừa có dương, mới gọi là Đạo. Đạo mới phát ra thì rất lành (lành tuyệt đối) mà đến khi thành hình mới có tánh. Kẻ nhân thấy nó thì gọi là nhân, kẻ trí thấy nó thì gọi là trí. Bá tánh dùng nó hàng ngày mà không hay biết, cho nên Đạo của người quân tử ít lắm.
Ý nói: Đạo phải có âm, có dương, nhưng âm dương chẳng qua là một khí luân chuyển mà thôi. Một khí động sanh dương thì chẳng có chi không lành. Nhưng chừng nó tịnh sanh âm (thành hình), thì tánh bị câu thúc mới có thiên kiến. Rồi ai thấy sao thì nói vậy. Bởi ý tưởng có sai biệt, nên mới đặt ra tên này, tên nọ (nào nhân, nào trí…) mà kêu gọi cho dễ hiểu. Cũng như người mang kiếng màu mà xem thế giới. Hễ kiếng nhuộm màu chi, thì thế giới cũng đổi ra màu đó. Kỳ thiệt, thế giới đâu có màu mè. Thiên hạ đều làm như vậy hằng ngày, mà chẳng rõ sự thiệt, nên rất khó gặp Đạo của người quân tử.
Thái Huyền Chơn Nhơn có làm thơ rằng:
Phụ mẫu sanh tiền nhứt điểm linh,
Bất linh chỉ vị kiết thành hình.
Thành hình trạo khước quang minh chủng,
Phóng hạ, y nhiên triệt để thinh.
Nghĩa Nôm:
Cha mẹ chưa sanh có điểm linh, (tức là lý tánh)
Hết linh vì bởi kết nên hình. (thân thể hình chất)
Nên hình bao phủ ánh tia sáng,
Xả hết, y nhiên rất sạch tinh. (xả dục vọng chấp trước)
Theo thứ tự sanh hóa, khi con người thành hình, thì lý tánh bị khí chất che lấp, làm cho nó phải tạm thời lu lờ. Tánh khí chất Nho gọi là vật dục, khí bẩm; Đạo gọi vọng tình; Thích gọi là vô minh.
Trên nói Lý tánh tạm thời lu lờ, là bởi bổn chất của nó rất sáng suốt, chẳng có chi làm cho nó mất luôn sự sáng suốt đó được. Tỉ như mặt trời bị mây che khuất một lúc, chừng mây kéo qua rồi, thì mặt trời chiếu diệu lại như trước.
Bởi Lý tánh bị che, nên sự phán đoán của nó mất tánh phổ biến, thiếu lẽ trung chánh. Thành thử nó chỉ biết một bộ phận, mà quên hẳn toàn thể; chỉ biết làm việc ích kỷ, mặc dầu xung quanh mình có tổn hại.
Hễ khí chất nồng hậu chừng nào thì Lý tánh bị che nhiều chừng nấy, vì đó mà trí hiểu của con người có nhiều trình độ khác nhau. Cho nên Lý tánh vốn bình đẳng, Phật gọi là căn bổn trí, mà trí hiểu có sai biệt.
LÝ TÁNH RẤT TINH VI
Trong Kinh Thơ có câu: “Nhơn tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi“, nghĩa là: Cái lòng người (thuộc về hình khí) rất nguy nan, cái lòng Đạo (thuộc về nghĩa lý) rất nhỏ nhẹm.
Cái lòng rất nguy nan là chỉ cái tánh bị che lấp nói trên. Các tội lỗi đều do nơi đó mà sanh ra. Còn cái lòng Đạo nói đây tức là Lý tánh.
Người ta không thể dùng giác quan mà nghe, thấy, rờ đụng Lý tánh được. Những lời nói, văn tự, thuộc về hình chất, khó mà mô tả nó ra cho đúng.
Đức Khổng Tử nói rằng: “Dư dục vô ngôn“, nghĩa là: Ta không muốn nói ra. Chẳng phải thiệt Ngài không muốn nói, kỳ thiệt là khó tả hình trạng cái Đạo. Có nói ra được, chỉ là nói về chỗ diệu dụng của nó mà thôi.
Thầy Tử Cống nói: “Phu Tử chi văn chương khả đắc nhi văn dã, Phu Tử chi ngôn tánh dữ Thiên Đạo, bất khả đắc nhi văn dã“, nghĩa là: Đức Phu Tử nói về văn chương còn có thể nghe được, chớ nói về Tánh và Thiên Đạo thì không thể nghe.
Đức Lão Tử nói: “Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh“, nghĩa là: Cái Đạo mà nói ra được là không phải cái Đạo hằng còn. Cái tên mà kêu gọi được là không phải cái tên hằng còn.
Thầy Trang Tử nói: “Thật vô ngôn, ngôn vô thật“, nghĩa là: Sự thiệt không thể nói ra, những điều nói ra là không phải thiệt.
Đức Phật nói: “Thị cố nhứt thiết pháp, tùng bổn dĩ lai, li ngôn thuyết tướng, li danh tự tướng, li tâm duyên tướng…“, nghĩa là: Vậy nên hết thảy các pháp từ hồi phát sanh cho tới bây giờ (chỉ bổn thể là Phật tánh Chơn như) nó vẫn xa lìa tướng của lời nói, tướng của tên chữ, tướng của ý nghĩ …
Thành thử có người nhận thấy Lý tánh, mà muốn dạy kẻ khác nhận thấy ngay như mình cũng là một việc rất khó. Vì Lý tánh vô hình và chữ thấy nói đây chẳng phải là thấy bằng con mắt thường ở ngoài. Ấy là tự mình nhận thấy ở trong tâm như một luồng điển nháng lên rồi tắt liền vậy. Nói một cách khác là thấy bằng tâm nhãn (con mắt của tâm).
Thầy Nhan Hồi, vì chỗ khó thấy, khó biết của lòng Đạo như thế, nên nói rằng: “Chiêm chi tại tiền, hốt diên tại hậu“, nghĩa là: Mới vừa thấy nó đằng trước, thì nó liền chạy ra phía sau.
Cho nên kẻ học Đạo, khi nghe thầy dạy rồi cần phải có công phu thiệt hành mới mong nhận thấy ít nhiều. Tức là ý nghĩa câu sách: “Dẫn nhi bất phát, dĩ đãi học giả chi tự đắc“, nghĩa là: Trương cung mà không bắn, để chờ kẻ học Đạo tự mình bắn lấy thì đặng. Ngoài sự tự đắc, tự chứng, thì không có con đường nào khác nữa.
II. MINH LÝ TÁNH BẰNG CÁCH NÀO?
Phải cách vật, trí tri. Đó là hai phương pháp thần diệu để gỡ màn che lý tánh và làm cho nó hiện ra rõ ràng.
Sách Đại Học ghi tám điều mục, mà hai điều trước hết là: Cách vật, Trí tri. Cách vật, trí tri không phải là công phu ban đầu mà thôi, chính là hai yếu điểm của chánh Đạo. Các công phu khác đều là phụ thuộc vào đó cả.
NGHĨA CỦA CÁC NHÀ CHÚ THÍCH SÁCH ĐẠI HỌC
Theo thầy Châu Tử giải, cách vật trí tri là: “Tức vật cùng lý“, nghĩa là xét ngay mỗi vật để tìm lẽ phải tới rốt ráo (vì mỗi vật đều có lý của nó). Nói một cách khác: Học hỏi, nghiên cứu mỗi vật để mở mang trí thức. Đó là cầu lý ở ngoài, có thể gọi là quảng tri, nghĩa là hiểu biết cho nhiều, cho rộng.
Theo ông Vương Dương Minh giải, cách vật là “Cách chánh sự vật“, nghĩa là: Đổi sửa mỗi việc ra ngay thẳng, lành tốt. Ông nói, nghĩa chữ vật này rất rộng, không phải chỉ vật hữu hình mà thôi. Phàm ý chi sở tại, nghĩa là: Ý người chú vào đâu bất luận chỗ đó có hình cùng không, đều gọi là vật cả. Còn trí tri theo ông, là phát triển lương tri, làm thế nào cho nó càng ngày càng thêm sáng suốt mãi, cho đến khi nó rọi chiếu khắp nơi, không còn để một chỗ nào u ám.
NGHĨA CHƠN CHÁNH THEO ĐẠO MINH LÝ
Nghĩa của thầy Châu Tử thiên về trí thức, như khoa học bây giờ. Còn nghĩa của ông Vương Dương Minh trọng chỗ phân biệt dữ lành, gần với thuyết luân lý. Đạo siêu việt trên các môn khoa học, luân lý. Cho nên hai nghĩa đó phải thì có phần phải, nhưng chưa phát hết ý tứ của Thánh Hiền xưa.
Theo thiển kiến của chúng tôi, cách là ngăn đón, cự tuyệt (se détacher). Cách vật nghĩa là đừng cho sự vật chi phối tâm mình, lúc nào cũng phải chống trả với tình tham dục, thói bất chánh. Nói cho đủ chữ là cách vật dục, nghĩa là trừ bỏ lòng ham muốn theo sự vật.
Nghĩa chữ vật tuy rộng, như đã giải rồi, mà trước hết phải hiểu là tài hóa (tiền của). Kinh Nhạc Ký nói: “Vật chi cảm nhơn vô cùng, nhi nhơn chi háo ố vô tiết, tắc thị vật chí nhi nhơn hóa vật giả dã, diệt thiên lý nhi cùng nhơn dục giả dã“, nghĩa là: Sự vật cảm động người ta không biết đâu là cùng. Nếu người ta ưa ghét không chừng, thì khi gặp vật, ắt người hóa theo vật (bị vật lôi cuốn). Người hóa theo vật thì thiên lý (tức là lương tri) chết mất, nhơn dục lẫy lừng.
Nếu lòng còn tham chấp vật nào, thì lương tri bị món vật đó ám mờ. Ban đầu, lương tri dong ruổi theo vật. Rốt cuộc, món vật án khuất lương tri. Thế lực của sự vật và lương tri đối chọi với nhau, một còn một mất, không thể đứng chung cùng nhau. Hễ dẹp vật thì đặng lương tri, còn giữ vật thì mất lương tri. Cho nên muốn trí tri tất nhiên trước phải cách vật.
Trí tri nghĩa là phát triển lương tri, làm cho nó đặng trọn sáng suốt. Muốn trí tri, có chi hay hơn là suy gẫm, xét nét cho tột bổn tánh lương tri. Nếu cứ nhân tuần (theo tập quán cũ), lấy bản ngã (tức là tánh khí chất) mà xem xét, thì con người không bao giờ đặng giải thoát, tới chết cũng còn ở trong vòng vật dục.
Ông Thiệu Nghiêu Phu nói: “Dĩ vật quan vật, tánh dã; dĩ ngã quan vật, tình dã. Tánh công nhi minh, tình thiên nhi ám“, nghĩa là: Lấy vật (giữ địa vị khách quan) mà xét vật là tánh xét, lấy bản ngã mà xét vật là tình xét. Tánh công bình nên sáng suốt, tình thiên vị nên tối tăm.
Mấy lời kinh sách của Nho giáo ghi trên đủ chứng cho nghĩa chơn chánh của cách vật, trí tri. Đạo giáo gọi là: Hư tâm thực phúc (trống lòng người, đầy lòng Đạo). Phật gia thường nói: Già tình biểu đức (nén tình dục, bày đức tốt).
CÁCH VẬT TRÍ TRI CÓ NHIỀU TRÌNH ĐỘ
Theo ông Vương Dương Minh, trí lương tri có thể phân ra làm bốn bực:
- Bực Thánh trí lương tri bằng cách thung dung.
- Bực Hiền trí lương tri bằng cách gắng gổ.
- Người phàm trí lương tri bằng cách khó nhọc mà học.
- Kẻ ngu bị che lấp, mê muội quá, không trí tri (khó nhọc mà không học).
Kẻ ngu bất tiếu tuy bị che lấp, mê muội cực điểm, mà lương tri chẳng lúc nào không có ở trong tâm. Nếu họ biết trí lương tri thì đồng như bực Thánh. Nhưng công phu có dễ khó khác nhau.
Ông Vương Dương Minh có lập một cái tỉ dụ rất hay. Ông nói rằng: Cái lương tri của bực Thánh như ngày trời quang tạnh (thanh thiên bạch nhựt); của bực Hiền như trời bị mây nổi che (phù vân thiên); của người ngu như trời sắp mưa, kéo mây u ám (âm mai thiên).
Người học Đạo phải biết mình ở vào hạng người nào. Như đứng vào hạng khó nhọc mà học, thì lý tánh bị ô nhiễm rất dày chặt. Phải bền chí ra sức lâu ngày. Nếu người ta dụng công một phần mà nên, thì mình phải dụng công tới trăm. Nếu người ta dụng công mười phần mà nên thì mình phải dụng công tới ngàn.
Đối với bực Thánh, cách vật dục một lần là xong. Hễ hết vật dục thì gọi là chí thành. Chí thành là bực Thánh, bởi chí thành và chí thánh vốn có một: Thánh là nói về phẩm, thành là nói về thể.
Còn các bực kế đó phải cách vật rồi trí tri, trí tri rồi cách vật nhiều lần như vậy mới nên. Bởi trí người yếu ớt, mà vật dục lại dày chặt, nên hai công phu phải nương nhờ nhau, nghĩa là làm nhân quả lẫn nhau.
Chương chữ Giải chỉ luận về phương pháp trí lương tri. Trong chương chữ Tín sau này, có bài giải về công đức, đó cũng là phương pháp trí tri.
III. TRÍ TRI VỚI HỌC HỎI
HỌC HỎI RẤT CẦN KÍP
Trí tri không phải chỉ lo học hỏi. Nhưng học hỏi là một công việc của trí tri, rất cần kíp cho kẻ bực thấp. Vì lý tánh bị che lấp, trí hiểu hẹp hòi, nếu kẻ bực thấp không theo lời dạy của các đấng Thánh Hiền, thì mới biết sao mà trí lương tri?
Nhiều người mới bước vào nẻo tu hành, đã khoe khoang rằng mình không cần học hỏi, cho rằng cách vật dục là đủ. Như thế là lầm. Thử coi trên đời có người nào không học, mà tự nhiên đặng sáng suốt, lên địa vị Thánh Hiền chăng?
Đức Khổng Tử nói: Trong một ấp mười nhà, chắc có người trung tín như Khưu, mà không ai ham học như Khưu. Ý nói: Người người đều có tánh lành như Khưu (đồng một Lý tánh), không phải Thánh mà thêm, không phải phàm mà bớt. Duy ham học là tự biết mình có chỗ kém khuyết, không làm mặt thông minh, thì mới giữ vững Lý tánh, không bị mê hoặc.
Ngài lại nói: Ta không phải sanh ra liền biết, ấy là nhờ ưa mến kinh sách của Thánh Hiền xưa, cần cù lo học đó thôi. Bỏ học mà cầu Đạo, thì cả đời vẫn còn ở trong cảnh mơ mộng.
Thầy Tử Tư cũng nói: Ta thường nghĩ nhiều mà không đặng chi hết, ấy nhờ học mà hiểu biết. Ta thường nhón gót mà dòm, nhưng không thấy chi hết, phải trèo lên cao mới thấy được. Cho nên tuy có bổn tánh, mà phải gia công học mới là tránh khỏi sai lầm. Lại nói: Tôn trọng đức tánh mà phải do sự học hỏi.
NHẬM THUẬT VÀ THỂ ĐẠO
Nhưng học hỏi chẳng phải chuyên về mặt văn chương. Chỗ cốt yếu là tìm hiểu cách trau sửa thân tâm. Thầy Tử Tư phân sự học hỏi ra làm hai cách: Nhậm thuật và thể Đạo.
Nhậm thuật là học chữ trong kinh sách có lúc hết. Còn thể Đạo chủ về đạo đức, nâng cao tinh thần tới chết mới thôi. Nhậm thuật nhọc mà rốt cuộc không công. Thể Đạo khỏe mà chẳng bao giờ cùng tận.
Nhậm thuật cốt để cầu danh lợi. Lúc cầu chưa được, thì trong lòng chán nản về sự lao nhọc. Khi cầu được rồi, thì lại lo sợ có ngày phải mất. Đó không phải là nhọc mà rốt cuộc không công sao?
Thể Đạo là học cho biết Đạo mà nắm giữ gốc Đạo, thì yên vui với Đạo, học mà không mỏi, không tranh với người, thì làm sao có người muốn hại? Đó không phải là khỏe mà chẳng bao giờ cùng tận sao?
TỰ MINH THÀNH
Sách Trung Dung nói: “Tự minh thành“. Tự minh là học hỏi để cầu lý sáng suốt trong tâm. Thành là lòng chơn thiệt, chẳng xen dục vọng. Hiệp lại mà giải: Học hỏi mà biết cầu lý sáng suốt trong tâm, thì Lý tánh hết tà niệm tất nhiên phát lộ.
Học mà không biến hóa dục vọng, cầu thấy Lý tánh, là sai tông chỉ của Thánh nhơn. Sự học của người quân tử là cốt để tự giác và chứng trọn Lý tánh mới yên trong lòng.
Ông Vương Dương Minh nói rằng: “Tâm tức lý“, nghĩa là: Tâm với lý có một mà thôi. Ý nói: Lý ở trong tâm, chớ không phải tìm đâu ngoài. Biết xét lý trong tâm, thì sự học mới không rối loạn, mới hiệp với lẽ nhứt quán. Khi học phải cầu nơi tâm luôn luôn. Nếu tâm chưa cho là phải, dầu lời nói tự một vị Giáo Chủ nói ra, ta cũng chưa dám cho là phải, huống là lời của ai khác! Hễ tâm đặng ổn thỏa, thì sự học đó tự nhiên ứng hiện ra ngoài tay chơn (thiệt hành).
Thầy Mạnh Tử nói: Nghĩ mà tìm cầu lấy nó (tánh nhân nghĩa lễ trí sẵn có trong tâm, tức là Lý tánh), thì sẽ đem nó trở về được. Nếu bỏ mà chẳng cầu lấy nó (để cho vật dục che lấp) thì phải mất nó.
Mỗi lần làm việc chi, thì phải hết lòng thành thiệt mà cầu ngược vào mình, suy gẫm đến tột lẽ tánh bổn nhiên, bỗng đâu phát hiểu rõ ràng, vui mừng khoan khoái, thì có việc nào mà làm chẳng xong. Người học Đạo mà làm đặng vậy, dầu gặp cảnh ngộ nào cũng là tự đắc (nghĩa là: Vui vẻ trong lòng vì làm tròn phận sự, đúng theo Lý tánh). Hai chữ này là then chốt của bộ sách Trung Dung của nhà Nho. Nó chỉ cái tâm cảnh, cái khí tượng của người thấy rõ cái Đạo, nghĩa là chứng đặng Lý tánh.

