MINH LÝ ĐẠO TAM-TÔNG MIẾU 廟  宗  ㆔

Minh Lý Yếu Giải – Chương thứ tư: Hành

CẢM ỨNG – SÁM HỐI – CÔNG ĐỨC

CHƯƠNG THỨ TƯ

I. CẢM ỨNG

NGHĨA CHỮ CẢM ỨNG

Cảm nghĩa là xúc động. Ứng nghĩa là phản động. Nhơn có xúc động là một việc của mình làm trước, mới sanh ra phản động là sức dội lại cho mình sau. Cảm và ứng vẫn liên lạc với nhau luôn. Chưa từng có ứng, mà không có cảm.

Cuốn Kinh Cảm Ứng của Đức Thái Thượng Lão Quân khởi đầu như vầy: “Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình“, nghĩa là: Điều họa phước không có ngõ nhứt định, chỉ tại người vời lại cho mình. Dữ lành hai lẽ báo ứng, tỉ như bóng theo hình.

Đạo Phật có luật Nhân Quả, danh từ tuy khác, mà ý nghĩa vốn đồng. Chữ Nhân nghĩa là năng sanh (hay sanh sản, như hột). Chữ Quả nghĩa là sở sanh (bị sanh sản, như trái). Hễ nhân lành thì sanh quả lành, nhân dữ thì sanh quả dữ.

Kinh Giác Thế nói rằng:

Lẽ Trời báo ứng rất công,
Nhân nào quả ấy, trả đồng chẳng sai.
Trồng dưa, trồng đậu thuở nay,
Giống nào sanh nấy, có lai bao giờ.

Nhân quả có ba đời. Việc làm ở đời trước làm nhân cho quả xảy ra đời bây giờ, việc làm đời bây giờ làm nhân cho quả xảy ra đời sau. Cho nên nhân quả tuần huờn, nối nhau chẳng dứt, không hề sai chạy.

Quả báo lại phân ra có hai thứ chánh báo và y báo. Chánh báo là quả báo hiện ra chính tại thân mình. Còn y báo là quả báo phụ thuộc, hiện ra trong hoàn cảnh của mình.

PHÂN BIỆT NGHIỆP LÀNH VÀ NGHIỆP DỮ

Mỗi việc làm có ba giai đoạn: Động cơ, Phương tiện, Kết quả. Động cơ là ý mới phát ra đề xướng việc này việc kia. Phương tiện là hành động, công lao. Kết quả là sự thành tựu có ảnh hưởng tốt hay xấu.

Luận về chỗ căn cứ để phân biệt nghiệp lành và nghiệp dữ, Đại thừa và Tiểu thừa của Phật giáo lập thuyết có khác nhau. Tiểu thừa căn cứ ở kết quả, còn Đại thừa ở động cơ.

Muốn biết nghiệp lành hay dữ, Tiểu thừa chỉ xét ảnh hưởng của việc làm trong dân gian thế nào. Những việc làm hữu ích cho mình, cho người ta, thì gọi là việc lành, không luận hồi khởi làm có ý tốt hay xấu.

Phái Đại thừa bàn về động cơ (Đạo giáo và Nho giáo cũng vậy, nên nói: “Chánh kỳ nghĩa bất mưu kỳ lợi“). Vì đó là mối đầu tiên manh nha trong tâm địa, thì còn gì cẩn yếu hơn nữa. Họ truyền làm lành, mà trước hết trong lòng phải ham mến việc lành, nghĩa là phải hành động từ trong ra ngoài.

Huống chi động cơ cũng gọi là cội gốc, là hột giống của mọi sự, mọi vật. Các điều chí chơn, chí thiện, chí mỹ đều ở trong đó mà phát ra.

KẾT QUẢ BÊN TRONG VÀ KẾT QUẢ BÊN NGOÀI

Đức Thái Thượng Lão Quân giáng bút dạy rằng: “Chư nhu phải nhớ câu này: Người nào theo Đạo, trông mong ở kết quả mới kiên nhẫn, cần có hy vọng mới làm việc, là người không biết Đạo đó. Chư nhu biết Đạo, thì cứ một đàng đi thẳng hoài, chẳng nên vọng tưởng sẽ thành công kết quả, hoặc sẽ đặng hưởng phước. Nếu còn vọng tưởng, thì còn phải lầm lạc nhiều hơn nữa. Cứ giữ phận sự mà làm, thì ngày sau sẽ thấy rõ“.

Chỗ thành công kết quả nơi đây là kết quả bên ngoài, tức là danh dự, tiền tài, … Mặc nó lại lại đi đi. Hễ ta càng đuổi theo nó chừng nào, thì lại càng xa Đạo chừng nấy. Đó chỉ là cái bóng vang, không dưới quyền trực tiếp của ta.

Trái lại, cái kết quả bên trong là làm cho lý tánh sáng tỏ, nâng cao tinh thần, do tự mình cầu hơn mình mỗi ngày. Thâu hoạch cái kết quả này cũng dễ dàng.

Đức Khổng Tử nói rằng: “Nhân viễn hồ tai! Ngã dục nhân, tư nhân chí hĩ“, nghĩa là: Đức nhân (tức là lý tánh) có phải xa đâu! Ta muốn cầu nhân, thì có nhân này tới ngay.

CẢM ỨNG LÀ ÁNH SÁNG RỌI ĐƯỜNG

Những người biết luật Cảm Ứng hay là luật Nhân Quả rồi, thì biết mỗi việc đều có kết quả chắc chắn. Hễ xu hướng về lành và lo làm lành thì sẽ đặng kết quả lành. Còn xu hướng về dữ và cứ làm dữ, thì sẽ gặp kết quả dữ.

Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Lòng nhân quyết thắng nổi lòng bất nhân, cũng như nước quyết thắng nổi lửa vậy. Nay kẻ làm điều nhân không ra hết sức mình, như lấy một chén nước mà muốn tắt một xe củi đương cháy vậy“. Vậy ta chớ thấy ban sơ chưa đặng thành công mà ngã lòng thối chí.

Khi gặp một cái quả báo đau đớn bên ngoài, ta cứ vui lòng lãnh chịu, đặng đền đáp cho xong cái nhân chẳng lành của ta đã lỡ tạo ra. Có khi sự đau đớn là một cuộc thử thách, để nâng các giá trị những người trình độ lên khá rồi. Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Cho nên Trời sắp giao trách nhiệm lớn cho người nào, tất nhiên trước làm khổ cái tâm của người đó, làm nhọc gân cốt của người đó, cho cái hình thể của người đó chịu đói khát, cái thân cảnh của người đó bị túng cùng, làm trái loạn cái ý họ muốn làm, cốt để kích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, cho chỗ chưa hay, chưa biết của họ đặng thêm đầy đủ“.

Muốn không tạo nghiệp ác, thì nên biết phép sám hối. Muốn cần tu nhân lành, thì phải rõ nghĩa công đức. Sám hối và công đức cũng là cách vật, trí tri.

II. SÁM HỐI

NGHĨA CHỮ SÁM HỐI

Chữ Sám là tiếng Phạn mà người Hoa âm ra, trọn chữ là ksamayati, nghĩa là hối quá (ăn năn tội lỗi). Lấy hai chữ: Sám (tiếng Phạn) và Hối (chữ Nho) hiệp lại làm một chữ kép là Sám Hối.

Đức Huệ Năng Lục Tổ có kêu các môn đệ mà hỏi rằng: Sao gọi là sám? Sao gọi là hối?

Sám là khai tội trước của mình đã phạm; từ trước, các phần ác nghiệp thuộc về ngu mê, dối gạt, tật đố, nay đều khai ra hết cả, đời đời chẳng còn gây ra nữa.

Hối là chừa bỏ lỗi sau, từ này về sau, các phần ác nghiệp thuộc về ngu mê, dối gạt, tật đố, nay đã tỉnh ngộ biết rồi, đời đời quyết đoạn dứt hết, không còn tái phạm.

Đại khái, sám hối có hai cách là: Sự sám và lý sám.

SỰ SÁM

Đức Thái Thượng Lão Quân giáng bút nói rằng: “Trong đạo Thiên Chúa, mỗi người đều có xưng tội trong tuần lễ. Còn Đạo ta thì không có, nên cần phải nghe kinh mỗi khi cúng cầu an, chăm chỉ nghe đặng biết lỗi mà sửa mình. Đó cũng như là xưng tội vậy“.

Mỗi tháng hai kỳ, là ngày sóc và ngày vọng, chúng tôi tề tựu tại chùa, trước là cầu an cho bá tánh, sau là làm lễ sám hối. Cuốn kinh của chúng tôi đọc theo lễ này gọi là Kinh Sám Hối, vì trong đó có chỉ rõ tội, phước cho người biết mà sửa mình.

Ta với chư Phật, chư Tiên cũng đồng lấy lý làm tánh, không phải khác nhau. Nhưng xét lại hành vi của ta thấp hèn, dối giả, bị khinh khi nên ta sanh lòng hổ thẹn. Hổ thẹn có hai thứ nên phân biệt là: tàm và quý.

Tàm: Không biết tội lỗi mà làm, hay là biết mà vô ý phạm, ngày nay hiểu rõ, nên có ý mắc cỡ, ăn năn gọi là tàm. Tàm là dựa vào sức hiểu biết của lương tâm.

Quý: Mỗi lần mình bị dục vọng lôi cuốn làm điều trái lẽ, vừa thấy bực Thánh Hiền, hàng sư trưởng, thì sanh lòng áy náy, thì gọi là quý. Quý là dựa vào sức lành của người khác để chống trả với các điều dữ.

Nếu ta thường làm tội, dầu tội nhỏ đi nữa, lâu ngày tụ thiểu thành đa, thì khi mạng chung không khỏi đọa vào chốn tam đồ ác đạo, nên nghĩ tới bèn sanh lòng sợ hãi. Cái tâm biết hổ thẹn, biết sợ hãi đó, thổ lộ ra ngoài bằng cách xưng tội và lạy tạ Phật Trời, thế thì gọi là sự sám.

Cốt yếu của phép sám hối là phải thành thiệt nhìn lỗi của mình đã phạm, rồi thệ nguyện chắc chắn không dám tái phạm cái lỗi ấy nữa. Đức Lục Tổ có nói rằng: “Kẻ phàm phu ngày mê, chỉ biết xét thấy tội lúc trước mà chẳng biết ăn năn về sau. Bởi cớ chẳng biết ăn năn về sau, nên tội trước không dứt mà lỗi sau lại sanh, thì sao gọi là sám hối?“.

LÝ SÁM

Theo phép chơn sám hối, đã biết tội lỗi rồi thì không nên tưởng lâu tới tội lỗi đó nữa, mà có hại cho tâm đức. Cần phải suy gẫm tới gốc của tội lỗi, mới biết tội lỗi là huyễn hư, Lý tánh là chơn thiệt.

Kinh Du Già Diệm Khẩu nói:

Tội tánh bổn không, do tâm tạo,
Tâm nhược diệt, thời tội diệt vong.
Tâm vong tội diệt, lưỡng câu không,
Thử tắc thị danh chơn sám hối.

Nghĩa Nôm: Tánh tội vốn không, tâm tạo nhân, Tâm bằng quên hết, tội tiêu lần. Tội tiêu tâm diệt, hai bên dứt, Đó mới gọi là sám hối chơn.

Lý tánh trước kia vốn là trống rỗng, chẳng có vật chi trong đó hết. Ta xét lại: Tội chẳng phải ở trong, chẳng phải ở ngoài, cũng chẳng phải ở giữa. Bổn lai của nó vẫn là không, chỉ do tâm tạo nhân duyên điên đảo mà có.

Kinh Phổ Hiền Quán dạy rằng: “Nhược dục sám hối dã, đoan tọa quán thiệt tướng, tội nghiệp như sương lộ, Phật nhựt năng tiêu trừ“, nghĩa là: Bằng muốn sám hối, ngồi ngay thẳng, xét tưởng tướng chơn thiệt (chỉ Lý tánh); tội nghiệp như sương mù, mặt nhựt của Phật làm tiêu hết.

Phép sám hối này ở trong Lý tánh của mình phát ra, chớ chẳng phải việc làm hình thức bề ngoài, nên gọi là vô tướng sám hối hay là lý sám.

SÁM HỐI LÀ PHÉP TIÊU CỰC

Cuốn Tu Chứng Nghĩa của phái Tào Động (Thiền Tông) nói: “Nghiệp dữ trong ba đời, tuy mình phải gánh chịu, nhưng nếu ai hay sám hối, thì nghiệp nặng cũng ra nhẹ, hay là được tiêu diệt luôn“. Nhưng đó chẳng qua là một phép tiêu cực, nghĩa là bớt lầm lạc, tiêu tội ác mà thôi.

Cái tâm của ta cũng như miếng đất của người làm vườn. Phải cần lo nhổ cỏ, dọn đất. Khi nhổ cỏ, dọn đất rồi, phải lo vun vén giống lành sẵn có, thì nó mới nứt mộng nẩy mầm, phát lớn lên được.

Sám hối và công đức cũng quan hệ với nhau như thế đó: Sám hối rồi phải lập công đức. Ban đầu, phải sám hối nhiều để giải oan khiên, nghiệp chướng, cũng như nhổ cỏ. Đến sau, lập công đức khá rồi, Lý tánh đã hiện rỡ ràng, cũng như cây lớn, thì tội lỗi không còn lôi cuốn ta được.

III. CÔNG ĐỨC

NGHĨA CHỮ CÔNG ĐỨC

Thông thường, người ta hiểu rằng: Công là tiếng chỉ việc lành, việc phải. Đức là nói về tâm biết lành, biết phải. Trong kinh Phật có câu: “Thí vật danh công, quy ký vi đức“, nghĩa là: Bố thí cho người một vật chi gọi là công, nhận cái công ấy về cho mình gọi là đức.

Phái Tiểu thừa thường gọi cất chùa, trợ sãi, bố thí, cúng dường là công đức. Nhưng Đức Lục Tổ cho những việc đó là phước đức chớ không phải công đức.

Trong Pháp Bửu Đàn Kinh, Ngài có dạy rằng: “Công đức ở trong pháp thân (tự tánh), chớ không phải ở chỗ cầu phước. Niệm tưởng suôn sẻ, hằng thấy bổn tánh, toàn thiệt diệu dụng, gọi là công đức. Trong lòng khiêm nhượng, hạ mình gọi là công; ngoài làm mỗi việc đúng theo lễ độ gọi là đức. Tự tánh sáng lập mọi sự, mọi việc, gọi là công; bổn thể của tâm lìa hết các thứ niệm lự gọi là đức. Nếu muốn tìm công đức pháp thân, chỉ y theo đó mà làm, mới là chơn công đức. Tự mình tu tánh gọi là công, tự mình tu thân gọi là đức. Này thiện trí thức! Công đức chỉ đặng thấy ở trong tự tánh mà thôi, chớ không phải tìm cầu ở trong việc bố thí, cúng dường. Cho nên công đức khác với phước đức“.

CHỚ LẦM TƯỞNG PHƯỚC ĐỨC LÀ CÔNG ĐỨC

Khi Đạt Ma Sơ Tổ từ Tây phương mới sang Đông Độ, trước hết tới độ vua Lương Võ Đế. Nhà vua hỏi Tổ rằng: “Một đời trẫm lo cất chùa, trợ sãi, bố thí, trai đàn. Làm như vậy có công đức chi?“. Sơ Tổ trả lời: “Thiệt không có công đức“.

Đức Lục Tổ nói: “Võ Đế tâm tà, không rõ chánh pháp. Cất chùa, trợ sãi, bố thí, trai đàn, gọi là cầu phước. Chẳng khá lấy phước mà làm công đức“. Bởi lòng người còn vọng tưởng cầu phước, vụ sự ích kỷ lo riêng, chẳng phải xét lẽ công chánh, đáng phải làm mà làm.

CHƠN CÔNG ĐỨC Ở TRONG LÝ TÁNH

Công đức này gọi là vô lậu tánh công đức. Vô lậu nghĩa là không lọt mất. Người tu công đức vô lậu chỉ làm những việc mà mình cho là lành, là phải mà thôi, không xu hướng ra ngoài mà trông hưởng một quyền lợi nào cả.

Thầy Mạnh Tử dạy nuôi khí hạo nhiên, có nói rằng: “Thị tập nghĩa sở sanh, phi nghĩa tập nhi thủ chi dã“, nghĩa là: Cái khí hạo nhiên tự các điều hiệp nghĩa nhóm lại mà sanh ra, chớ không phải góp nhiều điều hiệp nghĩa ở vật ngoài mà cầu lấy được đâu!

Muốn biết đức tánh của người nào, thì chớ ngó vào công việc lớn lao của họ làm trong một lúc. Chỉ có người tu chơn công đức, mới là có tánh hùng dũng, giữ một lòng, một đức cho tới cuối cùng, bất kỳ ở vào hoàn cảnh nào, ở vào thời kỳ nào.

LƯỢC GIẢI VỀ PHÉP SONG TU

Song tu nghĩa là tu tánh và tu mạng. Bực thượng căn, thượng đức vừa nghe Đạo, thì thẳng một nước vào cảnh Như Lai: Tu tánh tức là tu mạng. Phật gọi là đốn giáo.

Còn bực trung căn và hạ căn phải theo từng lớp mà đi lần tới: Tu tánh rồi tu mạng, tu mạng rồi tu tánh cho tới trọn xong. Phật gọi là tiệm giáo.

  1. Làm các việc lành, việc phải theo lương tâm, lý tánh, là tu tánh.
  2. Luyện khí Hậu thiên phản Tiên thiên, nghĩa là Khảm Ly trở lại Kiền Khôn, tức là tu mạng. Trong bài khẩu quyết của đạo Minh Lý, có câu: Tối diệu thâm Đại Đạo, Phật Tiên chẳng khác nào. Khí âm dương hiệp nhứt, Lấy Khảm đắp Ly hào. Trở lại Kiền Khôn quái, Là mối Đạo rất cao.

Đạo Đức Kinh nói: “Quy căn viết tịnh, tịnh viết phục mạng, phục mạng viết thường, tri thường viết minh“, nghĩa là: Trở về cội gốc gọi là tịnh, tịnh gọi là phục mạng, phục mạng gọi là thường, biết cái thường gọi đó là Minh. Đây lại là một nghĩa khác, cao hơn một bực, của chữ minh trong hai chữ đạo hiệu: Minh Lý. Chính đó là công phu yếu diệu của Đạo giáo, cũng gọi là: Luyện kim dịch huờn đơn.

  1. Còn trở lại tu tánh nữa, thì mới thiệt chứng quả Chơn nhơn. Tu như thế gọi là tu lý Hà Đồ, là tu Vô vi. Nhưng chơn không chẳng phải là trống không. Phải biết trong chơn không lại có diệu hữu, nghĩa là: Có vô lượng nghĩa lý, có công đức nhiều còn hơn cát sông Hằng nữa.

Phải song tu tánh mạng, thì mới trọn thành công. Đức Lữ Tổ nói rằng: “Tu mạng bất tu tánh, thử thị tu hành đệ nhứt bịnh. Tu tánh bất tu mạng, vạn kiếp âm linh nan nhập thánh“, nghĩa là: Tu mạng mà không tu tánh, đó là cái bịnh thứ nhứt của người tu hành. Còn tu tánh mà chẳng tu mạng, thì muôn kiếp tánh vẫn còn thuộc âm, không vào được cõi Thánh.

Vô Cực Đồ Thuyết nói: “Phù Đạo giả, tánh dữ mạng nhi dĩ. Tánh vô sanh dã, mạng hữu sanh dã“, nghĩa là: Đạo chẳng qua là tánh với mạng mà thôi. Tánh thì không sanh, tức là cũng không diệt. Còn mạng thì có sanh, tức là cũng có diệt.

← Về trang trước